Project
Topic
Style selection
Team members
Instructor
Suport
Đồ Hoạ Ứng Dụng
Catalogue Dak Lak
Illustration, Classic
Vương Ái Bội, Võ Mai Thuỷ
Th.S Lê Công Danh
Phạm Thành Nhân, Đinh Huỳnh Anh Khoa
Đắk Lắk là dự án catalogue giới thiệu về văn hoá vùng miền và được áp dụng những ứng dụng đã được học trong môn học này. Đắk Lắk (cách viết cũ là Darlac) là một tỉnh có diện tích lớn thứ 4 nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Năm 2019, Đắk Lắk là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 10 về số dân, xếp thứ 22 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 41 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 37 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 1,87 người dân, số liệu kinh tế - xã hội thống kê GRDP đạt 78.686 tỉ Đồng (tương ứng với 3,4175 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 41,00 triệu đồng (tương ứng với 1.781 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,82%.

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107°28’57”Đ- 108°59’37”Đ và từ 12°9’45”B - 13°25’06”B.- Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai
- Phía đông giáp các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà
- Phía nam giáp các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông
- Phía tây giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia với đường biên giới dài 193 km.Độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa hai tỉnh.

Đắk Lắk có địa hình có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc: nằm ở phía tây và cuối dãy Trương Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía tây bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía đông và phía nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió tây nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía đông do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng[10]. Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600–1800 mm.

Rượu cần là đồ uống thường xuyên, phổ biến và bất biến của các cư dân bản địa Tây Nguyên. Uống rượu cần trở thành phong tục, có nguồn gốc khá lâu đời, thành nét văn hóa đặc trưng trong đời sống. Rượu cần là thứ đồ uống quý thường chỉ dùng trong các dịp lễ tế thần linh, những ngày hội làng và dành đãi khách.Đối với người Tây Nguyên, rượu cần trước hết là vật để dâng hiến cho các thần (Yàng), sau đó đến nhu cầu của con người. Cũng như trâu, bò nuôi chủ yếu để làm hiến sinh, sau đó mới đến con người. Ở Tây Nguyên tất cả các lễ hội không bao giờ thiếu vắng rượu cần. Ngoài giá trị vật chất, rượu cần còn biểu hiện cho văn hóa giao tiếp. Bởi uống rượu cần vào con người mới thăng hoa, âm nhạc mới bốc đến độ cao trào, mọi khả năng nghệ thuật mới được biểu hiện đến mức tuôn chảy tự nhiên. Rượu cần là lời chào mời thân thiết (khi gặp bạn), là điều nhắc nhở đôi trai gái phải tuân thủ những phong tục của cha ông (trong lễ cưới) là một quyết định mang tính chất hành chính (trong lễ “thổi tai” công nhận đứa trẻ vào cộng đồng), là tình cảm xót thương, li biệt của người sống với người đã chết (trong lễ Pơ thi)… Nó là sợi dây liên kết cộng đồng, trở thành một phương diện văn hóa có sức sống lâu bền trong đời sống các cư dân Tây Nguyên.

Trang phục truyền thống đã trở thành một trong những nét truyền thống được lưu truyền từ đời này sang đời khác và gắn liền với sống ở nơi đây. Những bộ trang phục được tự tay những nghệ nhân ngồi dệt vải và thiết kế những mẫu mã đặc sắc đã cho thấy rằng tâm huyết và quan niệm thẩm mỹ của họ trong từng trang phục hết sức tinh tế. Người dân ở đây họ thường mặc trang phục truyền thống vào những dịp đặc biệt, lễ hội của buôn làng, ngày cưới.Trang phục truyền thống của người Ê đê - đó là sự tự khẳng định mình qua bộ trang phục mang lại một nét văn hóa mà không phải nơi nào cũng có, đồng thời quảng bá trang phục truyền thống của dân tộc mình đến với cộng đồng bạn bè trên khắp thế giới.Ngày nay, do nhiều ảnh hưởng của cuộc sống đương đại, những mẫu trang phục truyền thống của người dân Ê Đê có phần bị mai một. Tuy nhiên, chúng ta vẫn bắt gặp những bộ trang phục trong những lễ hội truyền thống của Việt Nam. Đây được xem là một trong những nét bản sắc văn hóa độc đáo cần được gìn giữ và phát huy trong thời kỳ hội nhập hiện nay.